Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Những tiến bộ sản xuất lúa lai trên thế giới

CÂY LƯƠNG THỰC. Nguyễn Phước Tuyên 2011. Những tiến bộ sản xuất lúa lai trên thế giới (Bài tổng hợp). Lúa lai là kỹ thuật chìa khóa để gia tăng năng suất, sản lượng lúa Trung Quốc là nước phát triển lúa lai nhất thế giới. Đến năm 2010, diện tích lúa lai Trung Quốc lên 20 triệu ha, chiếm 70% diện tích canh tác lúa của Trung Quốc, đã góp phần đưa năng suất lúa từ 4,24 tấn/ha của năm 1979 lên 6,58 tấn/ha năm 2009, trong khi năng suất lúa trung bình của thế giới chỉ có 4,32 tấn/ha (FAOSTAT, 2011), Diện tích lúa lai của các nước ngoài Trung Quốc trên 3 triệu ha, trong đó Việt Nam khoảng 600.000 ha, chủ yếu trồng ở các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Các dòng lai giữa Indica và Japonia đều cho năng suất trên 9 tấn/ha. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã lai tạo ra Việt Lai 20 vào năm 2004 đã được công nhận là giống quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Từ đó đến nay, có nhiều giống lúa lai khác được ra đời như TH3-3, TH5-1, TH 3-4 và Việt Lai 24, những giống này cũng đã được công nhận là giống quốc gia và đang được sản xuất trên diện tích hàng chục nghìn héc-ta là những thành công ban đầu của canh tác tự lai tạo và sản xuất hạt giống lúa lai tại Việt Nam.


NHỮNG TIẾN BỘ SẢN XUẤT LÚA LAI TÊN THẾ GIỚI


ThS. Nguyễn Phước Tuyên
Sở Nông nghiệp - PTNT Đồng Tháp

Hội nghị lúa lai tổ chức tại Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI với 38 tổ chức tư nhân và chính phủ năm 2008, đến năm 2010, con số này phát triển lên 47 tổ chức với mục tiêu tăng cường trao đổi thông tin và hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu tư nhân và nhà nước trong phát triển kỹ thuật lúa lai. Kỹ thuật này là chìa khóa để gia tăng năng suất sản lượng lúa từ thập niên 1970, đến năm 2008 diện tích trồng lúa lai trên thế giới lên đến 20 triệu ha, trong đó có 3 triệu ha ở những nước ngoài Trung Quốc.

Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI đã hợp tác với các cơ quan nghiên cứu trong việc tìm nguồn hỗ trợ tài chính, vật liệu lai tạo, phổ biến các giống mới. Nghiên cứu lúa lai bắt đầu ở các cơ quan nghiên cứu để tìm các nguyên lý cơ bản khoa học, giải quyết các trở ngại trong kỹ thuật, kinh tế và chính sách hỗ trợ. Với sự tiến bộ kỹ thuật, các công ty tư nhân ngày càng tham gia tích cực trong việc nghiên cứu và phát triển lúa lai, đầu tư ngày càng nhiều trong việc kinh doanh hạt giống lúa lai. Việc chuyển dịch từ nghiên cứu kinh điển sang thương mại cần thiết có sự hợp tác chặt chẽ giữa bộ phận nhà nước và tư nhân để không ngừng cải tiến và thương mại hóa lúa lai cho nông dân. Các công ty giống của bộ phận tư nhân đã có tiến bộ đáng kể trong việc tổ chức sản xuất, chế biến và tiếp thị hạt giống trên diện rộng, là những lĩnh vực là IRRI và các cơ quan nghiên cứu không thể vươn tới. Những cơ quan này tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học, tổ chức đánh giá các cặp lai, phát triển quỹ gien, phát triển kỹ thuật và xây dựng cơ sở vật chất. Kết hợp 2 thế mạnh của bộ phận nhà nước và tư nhân sẽ giúp cho lúa lai phát triển ngày càng bền vững

Hiện nay Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI tập trung vào lĩnh vực
- Đẩy mạnh nghiên cứu các dòng lai chuyên biệt như tăng năng suất và tính ổn định năng suất của ruộng giống. Tăng tính chống chịu điều kiện khắc nghiệt và chất lượng hạt gạo.
- Tăng cường nguồn vật liệu lai, gửi đánh giá cũng như nhận thông tin phản hối từ nguồn đa dạng di truyền của các nước trong mạng lưới đánh giá quốc tế
- Xây dựng hệ thống thông tin tốt hơn, bao gồm các kỹ thuật canh tác để phát huy hết tiềm năng năng suất, đánh giá các cặp/giống lai, áp dụng công nghệ sinh học và các rb- kỹ thuật di truyền về lúa

Trong các năm qua, những thành viên của Hiệp hội phát triển lúa lai quốc tế họp lệ thường niên tại IRRI. Họ thảo luận và thống nhất giải quyết những trở ngại trong phát triển lúa lai, những trở ngại trong bộ phận nhà nước và tư nhân để tạo cơ chế hợp tác bền vững

Trung Quốc là nước phát triển lúa lai nhất thế giới. Đến năm 2010, diện tích lúa lai Trung Quốc lên 20 triệu ha, chiếm 70% diện tích canh tác lúa, đến năm 2005 đã đưa ra 210 giống lúa lai, đã góp phần đưa năng suất lúa của Trung Quốc từ 4,32 tấn/ha của năm 1979 lên 6,58 tấn/ha năm 2009, trong khi năng suất lúa trung bình của thế giới chỉ có 3,74 tấn/ha (FAOSTAT 2011).

Để đạt thành tựu trên, họ xây dựng lúa lai dựa trên 3 giai đoạn
- Giai đoạn 1970-1995: giai đoạn phát triển lúa lai 3, sử dụng giống bất dục đực từ dòng lúa hoang Oryzae rufipogon. Giống này phát triển trên diện tích 12,4 triệu ha và đạt năng suất 6,9 tấn/ha
- Giai đoạn 1996-2000: Phát triển giống giống lúa lai kép bằng cách phun hóa chất gây bất dục đực lên cây mẹ (chemical hybridizing agents CHAs). Giống lai kép phát triển diện tích 2,8 triệu ha, năng suất đạt 10,25 tấn/ha. cao hơn giống lai ba 20%. Trong cùng thời gian khởi động chương trình siêu lúa lai
- Giai đoạn 2001-2006 Phát triển chương trình siêu lúa lai bộ kỹ thuật lai đơn. Những giống lúa lai này cho năng suất 12,5 tấn/ha trên diện rộng. Trên diện hẹp có cặp lai P64S/E32 cho năng suất kỷ lục 17,1 tấn/ha.



Hình 1 Giống siêu lúa lai ở Trung Quốc cho năng suất trên 12 tấn/ha

- Giai đoạn 2007-2015: Tiếp tục chương trình siêu lúa lai với mục tiêu đạt năng suất 13,5 tấn/ha trên diện rộng, trên diện hẹp tạo ra giống lai có năng suất 24 tấn/ha
Để đạt mục tiêu trên các nhà di truyền lúa Trung Quốc tập trung
- Cải thiện kiểu hình lúa bằng cách tạo giống lúa có phiến là dày, thăng để tăng hiệu suất quang hợp. Thân cứng, chống đổ ngã.Bông dài, to, mang nhiều hạt để mỗi bông nặng ít nhất 6g, với mật độ 250 bông/m2 sẽ có tiềm năng 18 tấn/ha
- Tăng mức độ ưu thế lai bằng cách lai chéo giữa các dòng lúa khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ưu thế lai theo thứ tự từ lớn đến nhỏ là: indica/japonica > indica/javanica >japonica/javanica> indica/indica > japonica/japonica. Như vậy lấy giống lúa Oryzae indica làm mẹ tiếp nhận phấn lúa của giống Oryzae japonica sẽ phát huy ưu thế lai tối đa, nâng hiệu sớm tích lũy chất khô trên 90g/ngày, số hạt/cây trên 3.200 hạt, tăng tỷ lệ hạt chắt.
- Áp dụng các thành tựu của công nghệ sinh học như kỹ thuật nuôi cấy túi phấn, marker phân tữ để tăng chất lượng hạt gạo và tính kháng sâu bệnh


Hình 2: Cải thiện dạng hình siêu lúa lai để cho năng suất trên 17 tấn/ha (hình đầu trang)

Với sự trợ giúp của quốc tế, diện tích lúa lai Việt Nam 600.000 ha, chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, năng suất 6,0-6,3 tấn/ha, cao hơn giống lúa thuần. Các dòng lai giữa Indica và Japonia đều cho năng suất trên 9 tấn/ha (bảng 1)

Bảng 1: Năng suất của một số dòng siêu lúa lai có triển vọng tại tỉnh Hà Tây, vụ xuân năm 2008 (Nguyễn Trí Hoan 2009)



Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã lai tạo ra Việt Lai 20 vào năm 2004 đã được công nhận là giống quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Từ đó đến nay, có nhiều giống lúa lai khác được ra đời như TH3-3, TH5-1, TH 3-4 và Việt Lai 24, những giống này cũng đã được công nhận là giống quốc gia và đang được sản xuất trên diện tích hàng chục nghìn héc-ta là những thành công ban đầu của canh tác tự lai tạo và sản xuất hạt giống lúa lai tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo
- L. P. Yuan 2009. Progress in Breeding of Super Hybrid Rice. IRRI
- Nguyễn Trí Hoan 2009. Progress in research and development of hybrid rice in Vietnam. IRRI
- Nguyễn Văn Ngưu 2009. Ensuring food security in the 21st century with hybrid rice: issues and challenges. IRRI
- Cheng S-H, Cao L-Y, Zhuang J-Y, Wu W-M, Yang S-H, Zhan X-D 2009 Breeding strategy of hybrid rice in China. IRRI

Nguồn: Nguyễn Phước Tuyên 2011. Những tiến bộ sản xuất lúa lai trên thế giới. Trong sách: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia. Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia 2011. Sản xuất và cung ứng lúa giống các tỉnh phía Nam. Diễn đàn Khuyến Nông @ Nông nghiệp lần thứ 5. PGS.TS. Mai Thành Phụng (chủ biên), Ths. Phạm Văn Tình, KS. Vũ Tiết Sơn. Nhà Xuất bản Nông nghiệp, trang 53-56. Hoàng Long biên tập mạng và post tại các trang NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC, CÂY LƯƠNG THỰC, FOOD CROPS theo bản email trực tiếp từ PGS.TS. Mai Thành Phụng

CÂY LÚA VIỆT NAM LỜI GIỚI THIỆU

PGS.TS. Bùi Bá Bổng
Thứ trường Bộ Nông nghiệp và PTNT


Lúa là cây trồng cổ truyền của Việt Nam và là cây trồng quan trọng nhất hiện nay vì diện tích gieo trồng lúa chiếm đến 61% diện tích trồng trọt cả nước và 80% nông dân Viêt Nam là nông dân trồng lúa. Gạo là lương thực thiết yếu hàng đầu của người Việt Nam vì 100% của dân số 87 triệu người không ai không ăn gạo hàng ngày từ người thu nhập thấp đến người thu nhập cao, từ nông thôn đến thành thị.

Chính vì tầm quan trọng của lúa gạo, thời gian qua Chính phủ Việt Nam luôn luôn đặt phát triển lúa gạo là nhiệm vụ trung tâm của phát triển nông nghiệp và đã có những đầu tư thích đáng cho xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống thủy lợi, nhờ vậy chỉ trong vòng 30 năm đã biến nhiều vùng đất khó khăn trở thành những vùng đất trồng lúa trù phú cho đất nước, mà điển hình nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài đầu tư cơ sở hạ tầng, Nhà nước cũng đã quan tâm đầu tư về khoa học công nghệ và khuyến nông đối với cây lúa và các chính sách hỗ trợ nông dân. Nhìn lại 20 năm qua, sản xuất lúa ở Việt Nam đã có những tựu đặc biệt ấn tượng, mà dấu mốc lịch sử là năm 1989, khi Việt Nam, một nước thiếu lương thực lần đầu xuất hiện là nước xuất khẩu gạo với số lượng lến đến 1 triệu tấn và sau đó, từ 1990 đến 2010 sản lượng lúa từ 19 triệu tấn tăng lên 40 triệu tấn, xuất khẩu gạo từ 1,6 triệu tấn tăng lên 6,7 triệu tấn, trong bối cảnh diện tích đất lúa năm 2010 đã giảm 380.000 ha nếu so với năm 2000. Năng suất lúa bình quân toàn quốc đã tăng từ 3,18 tấn/ha năm 1990 lên 5,3 tấn/ha năm 2010. Từ năm 2002 đến nay, năng suất lúa bình quân của Việt Nam luôn dẫn đầu các nước ASEAN và ít nhất trên nửa triệu ha năng suất lúa Việt Nam đạt trên 7 tấn/ha trong vụ Đông Xuân là mức năng suất lúa tiên tiến của thế giới hiện nay.

Những thành tích nêu trên là có thật, nhưng chúng ta không thể không day dứt vì những lẽ nông dân trồng lúa chưa có thu nhập tương xứng do những hạn chế trong phát triển sự liên kết giữa sản xuất - tiêu thụ - xuất khẩu của ngành lúa gạo nước ta và trong chuỗi giá trị lúa gạo người nông dân ở thế thiệt thòi nhất, do cơ sở hạ tầng phục vụ sau thu hoạch, tồn trữ, chế biến lúa gạo còn nhiều yếu kém dẫn đến chất lượng gạo thấp, giá gạo xuất khẩu thấp.

Bên cạnh đó, sản xuất lúa gạo nước ta đang bước vào thời kỳ có nhiều thử thách mới, trong đó có các thử thách nội sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và các thử thách mang tính thời đại như biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng và an ninh lương thực. Những năm gần đây, diện tích đất lúa nước ta giảm rất nhanh do nhu cầu sử dụng làm khu công nghiệp, giao thông, nhà ở, v.v. hoặc chuyển sang làm vuờn cây, nuôi trồng thủy sản. Trong vòng 10 năm từ 2000 đến 2009 diện tích đất lúa đã giảm 380 nghìn ha. Diện tích lúa còn tiếp tục giảm theo tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa và nếu không được kiểm soát nghiêm ngặt việc chuyển đất lúa sang các mục đích phi nông nghiệp, an ninh lương thực lâu dài của đất nước sẽ bị đe dọa khi dân số nước ta mỗi năm tăng trên 1 triệu người. Ngoài ra, do biến đổi khí hậu các vùng sinh thái vùng trồng lúa sẽ mất cân bằng nghiêm trọng khi nguồn nước cho canh tác trở nên ít hơn, hạn hán, lũ lụt nhiều hơn, xâm nhập mặn sâu hơn, mật độ bộc phát dịch sâu bệnh hại lúa cao hơn, v.v.

Trước các thử thách nêu trên, ngành lúa gạo Việt Nam phải có những đổi thay lớn để tạo ra bước phát triển mới cho giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến 2030. Trong bối cảnh này, cuốn sách Cây Lúa Việt Nam - tập III do GS. TS. AHLĐ Nguyễn Văn Luật chủ biên được phát hành tiếp theo tập I và tập II; đây là một bộ sách cung cấp các tư liệu và thông tin rất bổ ích về lúa gạo Việt Nam được biên tập rất công phu và nghiêm túc. Tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này đến quý độc giả.

Hà Nội, tháng 8 năm 2011
PGS.TS. Bùi Bá Bổng

Cơ cấu giống lúa vụ Hè Thu 2011 ở Nam Bộ

CÂY LƯƠNG THỰC. Theo Nguyễn Quốc Lý, Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm Giống, Sản phẩm Cây trồng Nam Bộ, Cơ cấu giống lúa vụ Hè Thu ở Nam Bộ đã được đề xuất tại Diễn đàn Khuyến nông và Nông nghiệp lần thứ 5 – 2011 chuyên đề Sản xuất và cung ứng giống lúa các tỉnh phía Nam. Trên cơ sở những đề xuất này , kết hợp với thực tiễn sản xuất của mỗi địa phương để xác định cơ cấu giống gồm 4-6 giống chủ lực, 4-5 giống bổ sung và 4-5 giống triển vọng mới; cơ cấu một giống không vượt quá 20% diện tích trên địa bàn. Để từng bước xây dựng vùng lúa hàng hóa chất lượng cao, các tỉnh cần rà soát quy hoạch những vùng sản xuất lúa đặc sản hoặc cao sản chất lượng cao với quy mô rộng (hàng ngàn ha) theo quy trình VietGap trên cơ sở có sự tham gia hoặc đặt hàng của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo. Một yếu tố quan trọng để cơ cấu giống được thực hiện và phát huy hiệu quả là tiếp tục tăng cường củng cố và đầu tư phát triển toàn diện hệ thống sản xuất và cung ứng giống lúa các cấp của cả hệ thống chính quy và nông hộ.

CƠ CẤU GIỐNG LÚA VỤ HÈ THU 2011 Ở NAM BỘ

Nguyễn Quốc Lý
Trung tâm KKN Giống, Sản phẩm Cây trồng Nam Bộ

1. Đánh giá giống lúa vụ Đông Xuân 2010/ 2011
Trong vụ Đông Xuân 2010/ 2011 dịch rầy nâu, vàng lùn, LXL – tác nhân gây hại lớn nhất tới sản xuất lúa trong gần 5 năm qua, đã cơ bản được quản lý trên phạm vi toàn Nam Bộ; đây là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm: sự chỉ đạo bằng các giải pháp đồng bộ và liên tục của Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng các địa phương, sự chuyển đổi tích cực về cơ cấu giống theo hướng tăng cường tỷ lệ giống kháng sâu bệnh hại, việc nâng cao tỷ lệ sử dụng giống lúa nguyên chủng và xác nhận, và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp quản lý dịch hại ... Trong vụ Đông Xuân 2010/ 2011 cơ cấu giống lúa ở Nam Bộ về cơ bản đã được áp dụng theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Cơ sở đảm bảo thực hiện cơ cấu giống theo khuyến cáo là sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống sản xuất giống lúa các cấp trong toàn vùng; tỷ lệ giống xác nhận (của hệ thống chính quy và hệ thống nông hộ) đạt 30-60% tùy theo địa phương. Các giống lúa chủ lực được áp dụng trong vụ ĐX 2010/ 2011 bao gồm: IR50404, OM2517, VNĐ95-20, Jasmine 85, OM576, OM2514, OM2717, OM4218, OMCS2000, ML48, VD20... Ngoài ra trong vụ ĐX2010/ 2011 một số giống lúa mới được Bộ NN&PTNT công nhận cũng có sự phát triển nhanh chóng trong sản xuất như: OM4218, OM6162, OM6161, OM4900, OM6561...

Công tác chọn tạo phát triển giống lúa mới cũng đạt kết quả đáng ghi nhận từ các đơn vị chọn tạo giống, đặc biệt từ Viện Lúa ĐBSCL. Qua khảo nghiệm và sản xuất thử đã xác định được nhiều giống lúa triển vọng trong vùng. Ở thời điểm hiện tại các giống lúa OM6377, OM5981, OMCS2009, OM6071, OM5629, OM6600, OM6877, OM5954, OM4101, OM6072, OM5451, OM5464, OM8923, OM6976 đang được Cục Trồng trọt thẩm định để công nhận chính thức; các giống OM3995, OM4488, OM5166, OM5953, OM6677, OM6877, OM7347, OM7348, OM7364, OM7398, OM7926, OM8223, OM8928 được xem xét công nhận cho sản xuất thử. Bộ giống lúa triển vọng mới cũng rất phong phú và đa dạng; đây là cơ sở quan trọng để xây dựng cơ cấu giống lúa cân bằng và chủ động trong vùng.

Ngoài những kết quả trên, trong vụ ĐX2010/ 2011 đã ghi nhận dịch bệnh đạo ôn xảy ra trên diện rộng, đây là hệ quả tất yếu do phần lớn các giống lúa chủ lực ở Nam Bộ có phản ứng hơi nhiễm – nhiễm bệnh đạo ôn; sự xâm nhập mặn cuối vụ gây hại đáng kể cho sản xuất lúa ở vùng ven biển; nhóm giống lúa chống chịu tốt với phèn mặn và hạn hán còn hạn chế; sự ”sốt giống” vẫn còn xẩy ra trong vùng.

2. Đề xuất cơ cấu giống lúa vụ Hè Thu 2011
Để sử dụng tốt nhất nguồn giống lúa hiện có, cần xây dựng cơ cấu giống lúa cân bằng cả về khía cạnh chất lượng và chống chịu điều kiện khó khăn và sâu bệnh hại. Trong điều kiện thu hoạch vụ ĐX2010/ 2011 được mùa, được giá và thuận lợi về thị trường, khả năng phát triển đột biến trở lại giống IR50404 trong vụ Hè Thu 2011 là thực tế. Để đảm bảo an toàn cho sản xuất và thị trường, cần tiếp tục quản lý chặt chẽ cơ cấu giống lúa IR50404 trong vụ Hè Thu theo các khuyến cáo trước đây. Diện tích giống IR50404 không vượt quá 20-25% cơ cấu giống từng vùng. Cần mở rộng diện tích các giống lúa ngắn ngày chất lượng tốt đã được công nhận chính thức hoặc cho sản xuất thử như OM4900, OM6162, OM6677, OM6561, OM4218, OM6976... kết hợp với duy trì tỷ lệ hợp lý giống lúa OM 2514 và OM1490. Trong điều kiện vụ Hè Thu, không mở rộng qúa cao diện tích giống Jasmine 85 và VD20; ngòai ra cũng cần chú ý đến mức độ chống chịu bệnh khô vằn và điều kiện khó khăn như đổ ngã, hạn và xâm nhập mặn đầu vụ …

Căn cứ vào thực tiễn sản xuất từ các địa phương và kết quả khảo nghiệm và sản xuất thử trong năm 2009-2010, các nhóm giống cho sản xuất vụ Hè Thu 2011 được tổng hợp như sau:

Nhóm giống lúa chủ lực (diện tích trên 30.000 ha/ vụ): IR50404, OM2517, OM4218, OM4900, VNĐ95-20, Jasmine 85, OM576, OM2514, OM2717, OMCS2000, OM6162, ML48.

Nhóm giống bổ sung (diện tich từ 10.000-30.000 ha/ vụ): OM3536, AS996, OM4498, OM2718, OM6561, VĐ20, ST5, OM1490, OM5199, OM5472, OM4088, OM8923, TNĐB100, OM5451, OM4488, OM7347, , MTL653, OM5976, OM6706, OM4101, B-TE1 (lúa lai), nếp OM85, Nàng Hoa 9 (lúa thơm), OM6976...

Nhóm giống lúa triển vọng (dưới 10.000 ha/ vụ): OM6677, OM9922, OM6916, MNR2, OM8108, OM8928, OM8104, OM5756, OM7262, MTL547, OM7364, OM8232, OM10041, OM6904, PHB71, OM7230, OM5886...

Các giống lúa chống chịu phèn mặn trung bình - khá: AS996, OM2517, ST5, OM6976, OM2488, OM2818, OM6379, OM6677, OM5199ĐB, OM576, OM5472, OM6561, OM1490, B-TE1, OM5464, OM5166, OM5629...

Nhóm giống lúa thơm-đặc sản: Jasmine 85, VĐ20, ST5, OM3536, Tài Nguyên, Nàng Hoa 9, nếp OM85...

Nhóm giống cao sản chất lượng cao cho xuất khẩu: OM3536, OM2517, VND95-20, OM2717, OMCS2000, OM6162, OM4900, OM4218...

Cơ cấu giống lúa cho từng tiểu vùng sinh thái ở Nam Bộ cho vụ Hè Thu 2011 được đề xuất như sau:

1. Vùng bán đảo Cà Mau: ưu tiên sử dụng các giống lúa ngắn ngày, chịu phèn mặn và điều kiện khó khăn.
 Giống chủ lực: OM2517, OM576, OMCS2000, OM6162, OM4900, OM2717, OM6161, IR50404...
 Giống bổ sung: OM5472, Jasmine 85, VND95-20, ST5, OM6561, OM7347, OM4488, lúa lai B-TE1...
 Giống triển vọng: OM6976, OM4688, OM5451, OM6377, OM8923, lúa lai PHB71...

2. Vùng tây sông Hậu và Tứ giác Long Xuyên: ưu tiên áp dụng các giống lúa thâm canh cao
 Giống chủ lực: IR50404, OM2517, OM4498, OM4218, OM4900, OM6162, OM5472...
 Giống bổ sung: OM2717, OM1490, OM576, AS996, OM3536, Jasmine 85, OM5451, OM6976...
 Giống triển vọng: OM8923, OM10041, MNR2, OM6677, OM8108, OM6916, MTL547, OM7364...

3. Vùng phù sa ngọt dọc sông Tiền, sông Hậu: ưu tiên sử dụng các giống lúa cao sản chất lượng cao:
 Giống chủ lực: OM4900, OM6162, Jasmine 85, OM4218, OM5472, OM2517, OM2514, VNĐ95-20, IR50404...
 Giống bổ sung: OM6976, OM2717, AS996, Nàng Hoa 9, TNĐB100, OM6561, OM6162, VD20, OM576, nếp OM85...
 Giống triển vọng: OM8923, OM7347, OM6677, OM5451, OM10041, OM6916, OM6932, OM6904, PHB71...

4. Vùng Đồng Tháp Mười: ưu tiên áp dụng giống lúa cực ngắn ngày, chịu phèn mặn trung bình – khá
 Giống chủ lực: IR50404, OM2517, VNĐ95-20, OM4218, OMCS2000, OM3536, OM6561, OM4900, OM6162...
 Giống bổ sung: OM6976, OM576, MTL499, OM2514, OM4498, OM5472, VD20, OM7347, Jasmine 85...
 Giống triển vọng: OM8928, OM5756, OM9922, OM6916, OM8923, MTL547, OM7262...

5. Vùng ven biển Nam Bộ: ưu tiên áp dụng giống ngắn ngày, thâm canh trung bình – khá, chịu điều kiện khó khăn
 Giống chủ lực: IR50404, OM2517, OM576, AS996, OM6162, OM6561, OM5472, OMCS2000...
 Giống bổ sung: OM3536, OM4498, ST5, OM4900, Jasmine 85, OM7347, OM1325 (Nhóm B), B-TE1, Một bụi đỏ...
 Giống triển vọng: OM8923, OM6976, OM6677, OM8928, OM8108, OM8104...

6. Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ:
 Giống chủ lực: VNĐ95-20, OM4900, OMCS2000, OM6162, IR59606 (OMCS94), ML48...
 Giống bổ sung: OM4218, OM6976, OM3536, OM4498, OM4900, OM5451, OM6162, TH6, TH4, IR64 ...
 Giống triển vọng: OM6916, OM8923, OM7262, OM8018, OM10041, MTL547, MNR2...

7. Các tỉnh Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa):
 Giống chủ lực: ML48, TH6, TH41, ML202...
 Giống bổ sung: ML214, OM4900, OM6162, OM59606...
 Giống triển vọng: OM6976, OM 7262, MTL 547, MNR 2, OM 6677, OM 8232...




Trên cơ sở đề xuất trên, kết hợp với thực tiễn sản xuất mỗi địa phương xác định cơ cấu giống gồm 4-6 giống chủ lực, 4-5 giống bổ sung và 4-5 giống triển vọng mới; cơ cấu một giống không vượt quá 20% diện tích trên địa bàn. Để từng bước xây dựng vùng lúa hàng hóa chất lượng cao, các tỉnh cần rà soát quy hoạch những vùng sản xuất lúa đặc sản hoặc cao sản chất lượng cao với quy mô rộng (hàng ngàn ha) theo quy trình VietGap trên cơ sở có sự tham gia hoặc đặt hàng của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo. Một yếu tố quan trọng để cơ cấu giống được thực hiện và phát huy hiệu quả là tiếp tục tăng cường củng cố và đầu tư phát triển toàn diện hệ thống sản xuất và cung ứng giống lúa các cấp của cả hệ thống chính quy và nông hộ.

Nguyễn Quốc Lý

Cỏ dại và biện pháp phòng trừ

Cỏ dại luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà trồng trọt đặc biệt là trồng lúa. Bởi cỏ dại gây những tác động không tốt cho cây trồng. Hiểu biết rõ về cỏ dại, nhà nông sẽ quản lý tốt cây trồng bằng những biện pháp phòng trừ cỏ dại thích hợp, có hiệu quả, góp phần làm giảm chi phí trong sản xuất.Cỏ dại có rất nhiều loài với nhiều đặc tính rất khác nhau, tuy nhiên chúng vẫn có những đặc điểm giống nhau. Dựa vào những đặc tính này, chúng ta có thể phân loại cỏ dại theo nhiều cách ( phân theo chu kỳ sinh trưởng, theo địa hình, theo hình thái và theo các khoá phân loại thực vật,v.v…)
1. Phân loại theo chu kỳ sinh trưởng: Theo cách phân loại này ta thấy có hai nhóm cỏ: cỏ hằng niên và cỏ đa niên.
- Cỏ hằng niên: là các loại cỏ hoàn thành vòng đời (từ hạt đến nảy mầm ra hoa tạo hạt) trong một hoặc hai mùa canh tác trong một năm. Các loại cỏ này thường chết vào mùa khô sau khi hoàn thành vòng đời của chúng.

- Cỏ đa niên: là những loại cỏ sống lâu hơn một năm. Loại cỏ này rất khó diệt vì có thân ngầm hoặc thân bò trên mặt đất, có bộ rễ, củ phát triển sâu, khả năng sinh sản vô tính mạnh.

2. Phân loại theo hình thái: Theo kiểu phân loại hình thái, ta có cỏ lá hẹp (còn gọi là cỏ một lá mầm) và cỏ lá rộng (còn gọi là cỏ hai lá mầm)

- Cỏ một lá mầm có những đặc tính chung như: lá hẹp, dày, mọc xiên, mặt lá có lông, rễ thường là rễ chùm, ăn nông, đỉnh sinh trưởng được bọc kín trong bẹ lá. Tuy nhiên, trong nhóm này cũng có một số loại cỏ có đặc tính hơi khác như cỏ cói lác lá hẹp nhưng mềm, mỏng và trơn.

- Cỏ hai lá mầm thường có lá rộng, nằm ngang, mỏng và mềm; rễ thường là rễ cọc, ăn sâu, đỉnh sinh trưởng để lộ ra ngoài.

3. Phân loại theo đặc điểm hệ thực vật (cỏ được phân chia thành ba nhóm):

- Nhóm cỏ hoà bản: cỏ có bản lá hẹp, dài, gân phụ song song với gân chính chạy dài từ đầu lá tới cổ lá. Thân: Thường tròn và bọng ruột, lá mọc cách, đính trên thân theo hai hàng. Rễ: thường là rễ chùm, ăn nông.
Nhóm cỏ chác lác: lá hẹp nhưng ngắn hơn cỏ hoà bản, thân thường đặc ruột có góc cạnh tam giác, lá đính trên thân theo ba hàng kiểu xoắn óc.

- Nhóm cỏ lá rộng: lá rộng, nằm ngang, mọc đối, mặt lá ít lông, gân lá sắp xếp theo nhiều kiểu hình khác nhau.
TÁC HẠI CỦA CỎ DẠI:
1. Làm giảm năng suất và phẩm chất của cây trồng: do có bộ rễ phát triển rất mạnh, phần lớn được phân bố ở lớp đất mặt nên dễ dàng cạnh tranh với cây trồng về dinh dưỡng, ánh sáng và nước làm cho cây trồng không đủ điều kiện sinh sống nên sinh trưởng và phát triển kém, cho năng suất thấp, phẩm chất nông sản giảm. 2. Là ký chủ của sâu bệnh: Các cây cỏ dại cùng họ có những đặc điểm giống cây trồng là những ký chủ phụ rất tốt cho sâu bệnh. 3. Làm tăng chi phí sản xuất: như tốn công làm cỏ, diệt cỏ bằng hoá chất …
PHÒNG TRỪ CỎ DẠI:
a. Biện pháp phòng: - Không để cỏ tạo hạt trên ruộng - Sử dụng giống không lẩn hạt cỏ- Vệ sinh nông cụ sạch cỏ trước khi sử dụng- Dùng phân hửu cơ đã oai ủ.- Dùng lưới chắn hạt cỏ khi cho nước vào ruộng.b. Biện pháp trừ:- Có thể nhổ cỏ bằng tay, làm đất, sử dụng nước thích hợp vaø dùng thuốc hoá học. Hiện nay, việc sử dụng thuốc hoá học để diệt trừ cỏ được coi là biện pháp hữu hiệu nhất vì nó tiết kiệm được công lao động, có thể sử dụng nhanh chóng trên diện rộng và được sử dụng ở nhiều thời điểm khác nhau, không cực nhọc, vất vả như các biệp pháp làm cỏ khác.
PHÂN LOẠI THUỐC TRỪ CỎ
- Thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm: tức phun thuốc khi cỏ chưa mọc hoặc mới mọc được một lá, loại thuốc này phải phun sớm sau khi sạ lúa khoảng 1-3 ngày, cần trang bằng mặt ruộng và đất đủ ẩm. Sau phun vài ngày cho nước vào ruộng (1-3 ngày), không để ruộng khô sau khi phun thuốc. Một số loại trên thị trường như: Venus 300EC, Bebu 30WP…
- Thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm: tức dùng thuốc khi cỏ đã mọc ra lá (cỏ có từ 2-7 lá tương ứng với lúa sạ được 7-20 ngày ). Loại thuốc này được lá cỏ hấp thu vào bên trong, do đó khi sử dụng, ruộng phải tháo cạn nước để lá cỏ tiếp xúc được với thuốc. Phun thuốc xong 1-3 ngày cho nước vào ruộng (không để nước ngập ngọn lúa) và giử mực nước trong ruộng phù hợp với giai đoạn sinh trưởng của lúa ( Pyanchor 3EC sử dụng khi lúa được 7-20 ngày sau sạ , Pyanplus 6EC từ 10-14 ngày sau sạ…)
- Thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm sớm : tức dùng thuốc khi cỏ đã mọc ra lá nhưng còn nhỏ (cỏ có từ 1- 3lá ) tương ứng lúa 3-7 ngày sau sạ. Sử dụng thuốc loại này rất có hiệu quả vì được cỏ hấp thu vừa qua lá vừa qua rễ. Loại sản phẩm này, có thể phun hoặc trộn với đất, phân bón để rải vào ruộng có nước xăm xấp (Star 10WP…) Trên đây là một số thông tin về cỏ dại và cách phòng trừ , hy vọng bà con nông dân có thể nắm bắt và ứng dụng trên ruộng nhà đạt kết quả.
Chúc quý bà con đạt mùa lúa bội thu, được giá.
Ths. Ký Văn Ngọt (SPC)

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

Một xã thu gần 10 tỷ đồng từ nhãn chín muộn

Vào dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 năm nay chúng tôi về xã Đại Thành, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội khi bà con nông dân đang hối hả thu hoạch vụ nhãn muộn thắng lợi.

Nhãn chín khắp các vườn nhà trong thôn, nhãn khoe sắc vàng trên những tán cây xanh dọc theo con đê quanh làng, nhãn được đóng thùng xốp để xếp lên các xe tải cỡ lớn chờ vận chuyển đi vào các tỉnh phía trong...

Hỏi về giống nhãn quí của quê hương, anh Nguyễn Văn Thành, chủ nhân của cây nhãn tổ gần 100 năm tuổi hiện vẫn còn xanh tốt, hàng năm cho thu hoạch hàng tạ quả tự hào cho biết: Đại Thành là một xã vùng quê thuần nông nằm ven bờ con sông Đáy có giống nhãn chín muộn ngon nổi tiếng. Đây là giống bản địa được phát hiện từ lâu đời ở xã, được gìn giữ qua nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Giống cho quả to, cùi dày, ăn ngọt và thơm.

Quả bắt đầu chín và cho thu hoạch từ cuối tháng 8 cho tới giữa tháng 9, được đưa ra thị trường vào lúc các giống nhãn khác đã hết nên được nhiều người ưa chuộng tìm mua với giá cao gấp 2-3 lần so với nhãn chính vụ (từ 35.000 đến 60.000 đồng/kg tùy theo thời điểm) nên đưa lại hiệu quả kinh tế rất cao.

Mới đây Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Hà Nội và chính quyền xã Đại Thành tổ chức hội thi để chọn ra giống nhãn quí làm thương hiệu cho vùng quê này. Kết quả, 10 hộ gia đình có giống nhãn chín muộn lọt vào vòng chung kết được chọn làm những cây đầu dòng để cung cấp nguồn giống cho nhân dân trong xã và nhiều địa phương khác mở rộng diện tích trong thời gian tới. Riêng cây nhãn tổ của gia đình anh giành giải nhất.

Đến nay anh Thành đã có 2ha trồng giống nhãn chín muộn được nhân giống từ cây nhãn tổ này, mỗi năm cho thu nhập hàng trăm triệu đồng từ tiền bán mắt ghép, bán cây giống và bán quả.

“Từ hiệu quả kinh tế của giống cây đặc sản này mục tiêu trong 2 năm 2010-2011 của Đại Thành là sẽ phủ xanh toàn bộ diện tích đất vườn bằng cây nhãn muộn để tạo ra vùng sinh thái trong lòng Thủ đô phục vụ khách du lịch và xây dựng thương hiệu để tiến tới tham gia xuất khẩu”, ông Trần Hữu Hinh nhấn mạnh.

Chủ tịch UBND xã Trần Hữu Hinh cho biết: Nhờ giống nhãn chín muộn này mà trong những năm gần đây nhiều hộ nông dân đã vươn lên thoát được cảnh đói nghèo, nhiều hộ trở nên giàu có. Giống quả đặc sản này cũng đã được nhân rộng ở nhiều địa phương các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang…

Chủ trương của huyện Quốc Oai (Hà Nội) cũng dành 2.000ha đất vùng bãi để phát triển các loại cây ăn quả đặc sản, trong đó ưu tiên nhân rộng diện tích các giống nhãn chín muộn. Hiện cả xã có hơn 70ha trồng giống nhãn chín muộn chủ yếu nằm trong các hộ gia đình cho hiệu quả kinh tế cao từ 130 đến 150 triệu đồng/ha/năm. Toàn xã hiện có gần 70ha nhãn chín muộn, dự kiến cho thu hoạch khoảng 700 tấn quả. Với giá bán bình quân từ 35.000 đến 40.000 đồng/kg thì người dân Đại Thành sẽ có nguồn thu trên 10 tỷ đồng từ cây nhãn muộn.

Năm 2010 toàn xã trồng mới thêm được gần 23ha, kế hoạch từ nay đến cuối năm xã sẽ chuyển đổi tiếp 26ha đất xấu vùng trũng cấy lúa kém hiệu quả sang trồng các giống chín muộn góp phần bổ sung vào cơ cấu giống rải vụ thu hoạch nhằm giảm áp lực nhân công, tránh được hiện tượng được mùa rớt giá và tăng thêm thu nhập cho nông dân một cách thiết thực.

Trồng lúa "1 phải 5 giảm", lợi nhuận cao

“1 phải 5 giảm” Tức là phải sử dụng giống xác nhận để SX lúa hàng hóa; giống, phân bón, thuốc BVTV, chi phí bơm tát, thu hoạch và thất thoát sau thu hoạch cần giảm để tăng lợi nhuận.

[http://agriviet.com]

Nông dân tham quan mô hình 1 phải 5 giảm do Trung tâm khuyến nông- khuyến ngư Trà Vinh thực hiện trong vụ lúa hè thu 2011

Đã đến lúc người trồng lúa cần xác định phương châm “1 phải 5 giảm”. Tức là phải sử dụng giống xác nhận để SX lúa hàng hóa; giống, phân bón, thuốc BVTV, chi phí bơm tát, thu hoạch và thất thoát sau thu hoạch cần giảm để tăng lợi nhuận.

Ông Nguyễn Thanh Long, Tổ trưởng tổ SX lúa ấp Bến Thế, xã Tân Sơn, huyện Trà Cù (Trà Vinh) cùng với 19 nông dân trong ấp đang ứng dụng phương pháp trồng lúa “1 phải 5 giảm”, cho biết: Từ phương pháp “3 giảm, 3 tăng” nâng lên “1 phải 5 giảm” rất thuận lợi cho nông dân. Theo đó, khâu giảm nước, giảm công thu hoạch và thất thoát sau thu hoạch đã góp phần cho nhà nông thu lợi rất lớn mà từ lâu nay vẫn còn bỏ ngỏ.

Trước kia, cứ thấy mặt ruộng vừa khô là bơm nước vào, còn bây giờ áp dụng phương pháp đặt ống nước để theo dõi, khi nào thấy nước xuống thấp hơn mặt ruộng 20 cm thì mới bơm nước. Nhờ kỹ thuật mới này giúp nhà nông giảm khoảng 300.000 đồng/ha chi phí bơm nước. Đối với công lao động, khi áp dụng biện pháp giảm nước thì mặt ruộng đảm bảo khô ráo cho máy gặt đập liên hợp hoạt động trong vụ hè thu. Thu hoạch 1.000 m2 bằng máy gặt đập chỉ tốn khoảng 200.000 đồng, còn thu hoạch thủ công thì tăng rất cao. Công đoạn nào giảm được chi phí thì đó là lợi nhuận tăng thêm.

Ông Lê Văn Lâm, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Trà Vinh cho biết: Với mục tiêu nâng cao tiến bộ KHKT từ 3 giảm 3 tăng lên 1 phải 5 giảm. Tức là phải sử dụng giống xác nhận hoặc nguyên chủng; còn giảm giống, phân đạm, thuốc BVTV, giảm nước hợp lý, thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp và sấy để giảm thất thoát. Trong vụ hè thu năm 2011, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư đã xây dựng mô hình ứng dụng 1 phải 5 giảm trong SX lúa tại ấp Bến Thế, xã Tân Sơn, huyện Trà Cú. Tổng kinh phí thực hiện 295.400.000 đồng, trong đó dân đóng góp 225.400.000 đồng. Khuyến nông, khuyến ngư hỗ trợ 70.000.000 đồng kinh phí giống, phân bón, thuốc BVTV, tập huấn, hội thảo...

Sau 100 ngày ứng dụng 1 phải 5 giảm vào SX 20 ha lúa tại ấp Bến Thế, xã Tân Sơn đã cho kết quả làm hài lòng nông dân: chi phí phân bón giảm 294.000 đồng/ha, thuốc BVTV giảm 1.000.000 đồng/ha, bơm tát giảm 300.000 đồng/ha, chi phí thu hoạch giảm 1.700.000 đồng/ha thất thoát trong thu hoạch giảm 7% (từ 10% xuống còn 3%). Năng suất ước đạt từ 6,8 đến 7,3 tấn/ha cao hơn năng suất trong vùng là 5,3 tấn/ha.

Đặc biệt, trong thời gian thực hiện chương trình, cán bộ khuyến nông còn hướng dẫn các hộ ghi chép đầy đủ nhật ký SX lúa vào sổ tay giống theo hướng VietGAP. Mục tiêu của khuyến nông Trà Vinh từng bước giúp nông dân làm quen với qui trình sản xuất lúa theo tiêu chuẩn theo VietGAP. Trên cơ sở ghi chép này, 20 nông dân ấp Bến Thế, xã Tân Sơn đã tính được giá thành sản xuất lúa ứng dụng 1 phải 5 giảm là 2.276 đồng/kg, giảm 1.008 đồng/kg (giảm 30%) so với sản xuất đại trà trong vùng là 3.284 đồng/kg.

Trong đó, việc giảm giống, phân bón, thuốc BVTV, chi phí bơm tát, chi phí thu hoạch đã góp phần rất lớn trong việc hạ giá thành sản phẩm. Lợi nhuận trong mô hình đạt 40.064.000 đồng/ha cao hơn 21.964.000 đồng/ha so với sản xuất đại trà tại địa phương là 18.100.000 đồng/ha. Mặt khác, hiệu quả về xã hội là đẩy nhanh tiến độ áp dụng đồng bộ cơ giới hóa trong sản xuất lúa đặc biệt là sau thu hoạch, giải quyết tình trạng thiếu lao động trong thu hoạch lúa, tiến tới hợp tác sản xuất hàng hoá cung ứng cho thị trường. Xã hội hoá công tác giống ở địa phương và cung cấp cho thị trường trên 140 tấn giống đạt cấp xác nhận.

Tác động với môi trường: chương trình áp dụng 1 phải 5 giảm sẽ hạn chế sử dụng thừa phân đạm; giảm sử dụng thuốc BVTV; sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; giảm ô nhiễm môi trường; bảo vệ được sức khoẻ cho người sản xuất và tiêu dùng. Việc ứng dụng quy trình 1 phải 5 giảm vào SX lúa chất lượng ngay từ bây giờ là rất thiết thực. Hạ giá thành sản xuất, tăng thu nhập và lợi nhuận cho người trồng lúa, sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, thân thiện môi trường là hướng phát triển bền vững cho cây lúa.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Bệnh lúa von hại lúa


Trong nhiều vụ lúa vừa qua, bệnh lúa von đã phát triển nặng trên một số giống lúa như Jasmine 85, OM 2517, IR42…ở An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng. Tại Diễn đàn Khuyến nông @ Công nghệ được tổ chức tại An Giang ngày 20/4/2007 với chuyên đề “Các giải pháp kỹ thuật thích hợp cho vụ lúa Hè Thu 2007 ở Nam bộ”, nhiều nông dân rất quan tâm đến đối tượng bệnh hại này và đã yêu cầu các nhà khoa học giải đáp, hướng dẫn biện pháp phòng trị sao cho có hiệu quả.


Bệnh lúa von do nấm Fusarium moniliforme gây ra. Bệnh có thể gây hại từ giai đoạn mạ đến thu hoạch, tuy nhiên thực tế đồng ruộng cho thấy giai đoạn mạ và thời kỳ đẻ nhánh thường bị nhiễm bệnh mạnh nhất và các bộ phận ở phía dưới như rễ, gốc thân dễ bị nhiễm bệnh. Cây mạ bị nhiễm bệnh vươn dài ra cao hơn hẳn cây lúa bình thường, có bộ lá mỏng màu xanh vàng, thối rễ và bị chết. Ở giai đoạn đẻ nhánh, cây bị bệnh ít nở bụi, gầy và cao lêu nghêu, lá đòng có màu xanh vàng dễ nhận biết nhô lên hẳn phía trên tầng lá bình thường của ruộng, lóng phát triển dài ra, thường mọc nhiều rễ phụ ở đốt (rễ gió) và có thể thấy lớp phấn trắng phớt hồng bao quanh đốt thân và vị trí xung quanh đốt thân. Cây lúa bị nhiễm bệnh hoặc sẽ chết, hoặc cũng cho bông nhưng tỷ lệ hạt lép rất cao, vỏ hạt màu xám, nếu thời tiết ẩm ướt trên vỏ hạt xuất hiện lớp phấn trắng phớt hồng, nếu thời tiết khô trên đốt thân và vỏ hạt có nhiều chấm nhỏ màu xanh đen.


Nấm bệnh sinh ra bào tử và theo gió lây lan. Nấm tồn tại trên rơm rạ cây lúa bị bệnh, trên hạt lúa và ở trong đất. Ở trong đất, nấm có khả năng lưu tồn khoảng 2 năm gây nên sự tích lũy làm khả năng vụ sau bệnh nặng hơn vụ trước, năm sau bệnh nặng hơn năm trước.


Thời gian qua, bà con nông dân phòng ngừa bệnh lúa von bằng cách xử lý hạt lúa giống trước khi gieo sạ bằng nhóm thuốc Carbendazim. Tuy nhiên, hiện nay nông dân ghi nhận là nấm bệnh lúa von đang tỏ ra lờn với nhóm thuốc Carbendazim nên hiệu quả phòng ngừa bệnh không cao.


Nhằm tìm biện pháp phòng trị bệnh lúa von, từ năm 2004 Công ty BASF (Đức) phối hợp với nhiều nông dân giỏi, cán bô kỹ thuật ở An Giang và một số địa phương khác tích cực nghiên cứu. Căn cứ vào những kết quả rất tốt trên đồng ruộng, Công Ty BASF đã đăng ký với Cục Bảo Vệ Thực Vật và thuốc trừ bệnh Polyram 80 DF phòng trị bệnh lúa von đã được công nhận trong danh mục thuốc BVTV theo Quyết định số 23/2007/QĐ-BNN ngày 28/3/2007 của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT.

Hướng dẫn sử dụng thuốc Polyram 80DF
Có thể áp dụng các cách xử lý sau :
1.Ngâm giống :
- Pha 100-200 g thuốc Polyram trong 100 lít nước dùng để ngâm 100 kg giống (5 giạ).
- Ngâm lúa giống 24-36 giờ.
- Ủ lúa giống 24 giờ cho ra mộng và sạ bình thường.


2.Phun trộn giống :
- Ngâm lúa giống 36 giờ.
- Pha 100-200 g thuốc Polyram trong 15 lít nước dùng để tưới hoặc phun cho 100 kg giống (5 giạ).
- Tưới hoặc phun dung dịch thuốc lên lúa giống và trộn đều lúa giống. Chú ý không để dung dịch thuốc chảy tràn.
- Ủ tiếp 12 giờ cho ra mộng và sạ bình thường.


3. Phun Polyram cho cây lúa trên đồng ruộng :
- Khi ruộng lúa đã chớm xuất hiện bệnh lúa von, cần nhổ bỏ cây lúa bệnh.
- Pha 60 g thuốc Polyram/ bình 16 lít, phun 2-3 bình cho 1000 m2.
- Khi phun thuốc chú ý phun kỹ xuống đến gốc lúa vì bệnh tấn công phần thân dưới gốc chứ không phải trên lá.