Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2011

NHẬN ĐỊNH XU THẾ MÙA ĐÔNG XUÂN NĂM 2011-2012

a) Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ):

Từ nay đến hết năm 2011, bão và ATNĐ vẫn còn có khả năng xuất hiện và hoạt động trên khu vực Biển Đông và còn có khả năng ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam khoảng từ 1 - 2 cơn, ảnh hưởng chủ yếu tới Trung Bộ.

b) Nhiệt độ:

Nền nhiệt độ các tháng nửa đầu vụ đông xuân năm 2011 – 2012 tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ phổ biến ở mức cao hơn một ít so với TBNN, các tháng nửa cuối vụ ở mức thấp hơn một ít so với TBNN. Các khu vực khác nền nhiệt độ toàn vụ ở mức xấp xỉ với TBNN.
Đợt rét đậm đầu tiên (nhiệt độ trung bình ngày tại Đồng Bằng Bắc Bộ xuống dưới 15oC) của vụ Đông Xuân 2011 - 2012 tại các tỉnh Bắc Bộ khả năng xuất hiện muộn hơn so với mức TBNN (ngày xuất hiện TBNN: 26/12). Các đợt rét đậm, rét hại có khả năng không kéo dài như mùa đông xuân năm 2010-2011 và tập trung xảy ra vào tháng 1 và 2/2012.

c) Lượng mưa:

- Phía đông Bắc Bộ nửa đầu vụ có khả năng ở mức xấp xỉ TBNN, nửa cuối vụ phổ biến ở mức cao hơn một ít so với TBNN; phía tây Bắc Bộ vào các tháng đầu và giữa mùa ở mức thấp hơn một ít so với TBNN cùng thời kỳ, các tháng cuối vụ ở mức cao hơn một ít so với TBNN.
- Trung Bộ lượng mưa toàn vụ phổ biến ở mức cao hơn một ít so với TBNN, riêng Bắc và Trung Trung Bộ các tháng đầu mùa cao hơn so với TBNN, các đợt mưa tập trung nhiều vào thời kỳ tháng 10, 11/2011. Các tháng nửa cuối mùa ở mức xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ.
- Nam Bộ và Tây Nguyên phổ biến ở mức cao hơn một ít so với TBNN (có khả năng mùa mưa ở Tây Nguyên và Nam Bộ kết thúc muộn hơn so với bình thường). Trong thời gian mùa khô có khả năng xảy ra các đợt mưa trái mùa.

Nguồn:http://www.nchmf.gov.vn

Sẵn sàng cho vụ lúa đông xuân 2011-2012

Năm 2011, sản xuất lúa và xuất khẩu gạo của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được đánh giá có nhiều thuận lợi, tạo tiền đề cho việc đầu tư canh tác vụ lúa đông xuân 2011-2012. Tuy nhiên, mực nước lũ dâng cao, tình hình sâu bệnh, khô hạn, xâm nhập mặn đang diễn biến phức tạp... là những nguy cơ đe dọa vụ lúa đông xuân 2011-2012. Mới đây, tại Hội nghị “Sơ kết sản xuất lúa năm 2011 và triển khai kế hoạch vụ đông xuân 2011-2012 tại các tỉnh Nam Bộ”, tổ chức tại tỉnh Hậu Giang, các chuyên gia đầu ngành đã sớm đưa ra những biện pháp chỉ đạo sát sao, kịp thời cho vụ lúa đông xuân 2011-2012...

* Ông Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Rà soát cơ cấu giống, thời vụ và mùa vụ trên toàn vùng”



Trong vụ đông xuân 2011-2012, để đối phó với tình hình biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và dịch rầy nâu, vàng lùn và lùn xoắn lá (VL&LXL) cho sản xuất lúa ở Nam Bộ nói chung và ĐBSCL nói riêng, các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương, chủ động xây dựng và hướng dẫn cơ cấu giống phù hợp cho từng vùng sinh thái theo phương châm: tinh giản số giống, mỗi tiểu vùng chỉ xây dựng 5-6 giống chủ lực, 4-5 giống bổ sung và 3-4 giống triển vọng mới. Thực tiễn sản xuất cho thấy, trong năm 2011, việc chuyển đổi cơ cấu giống lúa nhiễm nhẹ rầy nâu và chống chịu khá với bệnh VL&LXL đã mang lại hiệu quả thiết thực trong từng mùa vụ ở các địa phương.

Song song đó, các địa phương cần xác định vụ thu đông là vụ lúa chính trong cơ cấu những vùng sản xuất lúa 3 vụ ở ĐBSCL.Từ đó, từng bước sắp xếp lại thời vụ và mùa vụ của lúa hè thu và thu đông theo hướng chuyển dần diện tích sản xuất lúa hè thu không hiệu quả, năng suất thấp sang canh tác lúa thu đông hoặc giảm diện tích xuống giống lúa hè thu sớm trong tháng 2, 3 chủ động xuống giống lúa hè thu trong tháng 3, 4 trên nguyên tắc đảm bảo tổng diện tích sản xuất lúa trong năm không giảm...

* Ông Nguyễn Hữu Huân, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ Thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Không để rầy nâu có điều kiện tích lũy mật số gây hại đến các trà lúa đông xuân 2011-2012”



Nhìn chung, trong cả 3 vụ lúa năm 2011, công tác phòng chống dịch hại lúa ở các tỉnh phía Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, so với giai đoạn 2006-2010 có xu hướng giảm. Tuy nhiên, đến vụ hè thu năm 2011 dịch bệnh VL&LXL bùng phát (tháng 5 và 6-2011) trở lại và tỷ lệ nhiễm tăng cao so với cùng kỳ. Nguyên nhân tái bùng phát dịch là do xuống giống lúa xuân hè quá sớm (trong tháng 2) và xuống giống liên tục (trong tháng 3) nên toàn bộ diện tích lúa non dưới 20 ngày tuổi trùng khớp với đợt rầy di trú rộ cuối vụ đông xuân. Do vậy, trong vụ lúa đông xuân 2011-2012, ngay từ đầu vụ, các tỉnh, thành cần liên tục theo dõi bẫy đèn kết hợp điều tra giai đoạn phát dục của rầy nâu trên các trà lúa và hướng gió để dự báo thời điểm rầy di trú, từ đó thông báo đến các địa phương lịch xuống giống tập trung, né rầy.

Đối với diện tích lúa thu đông-mùa 2011 còn lại chưa thu hoạch, ngành nông nghiệp các địa phương cần nắm chặt diễn biến của rầy nâu ngoài đồng, vận động nông dân trừ rầy tại các nơi có mật số rầy nâu cao, không để cho rầy nâu có điều kiện tích lũy mật số gây hại và lan truyền bệnh VL&LXL sang các trà lúa đông xuân 2011-2012.

* Ông Trần Gia Khảm, Trưởng phòng phía Nam Tổng Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Theo dõi tình hình lũ rút, củng cố bờ bao để xuống giống kịp thời nhằm né hạn và xâm nhập mặn”.



Nước lũ tại ĐBSCL dâng cao, rút chậm, thời gian ngập lũ kéo dài, lượng nước trữ trên lưu vực nhiều, do vậy, mùa khô năm nay lưu lượng nước thượng nguồn các dòng chính về sẽ nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu mùa khô xảy ra thời tiết bất lợi như: nắng nóng gay gắt, nhiệt độ cao, ẩm độ thấp... sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất vụ lúa đông xuân 2011-2012. Do đó, để chủ động và đảm bảo nguồn nước tưới tiêu, các địa phương vùng ĐBSCL cần theo dõi sát tình hình lũ rút, củng cố bờ bao, tiến hành bơm tác... để xuống giống kịp thời nhằm né hạn và xâm nhập mặn. Ngoài ra, mỗi tỉnh, thành thành lập Ban Chỉ đạo phòng chống hạn và xâm nhập mặn, đồng thời xây dựng phương án phòng chống hạn và xâm nhập mặn. Song song đó, các địa phương cần tập trung tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng về diễn biến thời tiết, nguồn nước để chính quyền và nhân dân địa phương chủ động phối hợp trong công tác chống hạn và xâm nhập mặn.

* Ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam: “Nhân rộng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”, áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật vào thâm canh cây lúa”.



Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” là một trong những chủ trương lớn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được phát động trong bối cảnh sản xuất và tiêu thụ lúa gạo đòi hỏi phải được tổ chức, sắp xếp phù hợp với thực trạng, yêu cầu từ thị trường; phương thức tổ chức vừa giải quyết tốt vấn đề về an ninh lương thực trong nước, vừa đáp ứng nhu cầu xuất khẩu... Thực hiện mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” là một bước ngoặt quan trong việc tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu lúa hàng hóa quy mô lớn, chất lượng ổn định, đồng nhất thông qua mối liên kết “4 nhà”. Vì thế, Hiệp hội Lương thực Việt Nam luôn vận động, khuyến khích các thành viên tích cực tham gia mô hình này qua việc hỗ trợ, cung ứng vật tư đầu vào, bao tiêu sản phẩm, hỗ trợ phơi sấy, tạm trữ... cho nông dân. Song song đó, việc áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật vào thâm canh cây lúa sẽ góp phần rút ngắn sự chênh lệch về năng suất giữa các thửa ruộng, các vùng sản xuất, từ đó nâng cao năng suất bình quân toàn vùng...

MỸ THANH (lược ghi)

Nguồn: http://www.baocantho.com.vn/

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2011

Bệnh thối xám cà chua (Botritis cinerea Pers)

1. Đặc điểm nhận biết

- Trên lá bệnh thường xuất hiện từ đầu lá chét, sau đó lan theo gân chính vào trong và phát triển rộng, mô bị bệnh chết khô có màu xám. Phần ranh giới giữa mô bệnh và mô khoẻ có màu vàng nhạt.

- Trên thân, cành vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ, màu thâm đen sau đó lan rộng gây thắt thân, cành; vết bệnh có màu xám, phần thân và cành phía trên vết bệnh bị héo dần và khô tóp.

- Trên quả lúc đầu vết bệnh là đốm nhỏ, mờ sau đó vết bệnh lan rộng dần, đường kính có thể rộng 1,5 – 3 cm, bệnh thường xuất hiện trên vai quả, gần núm quả hoặc từ núm quả ở thời kỳ quả già.

2. Điều kiện phát sinh gây bệnh

- Bệnh thường bắt đầu từ lá già ở giai đoạn cây trưởng thành có tán lá dày đặc. Trong điều kiện thời tiết mát, nhiệt độ 9 – 240C, ẩm độ > 91%.

- Ở miền Bắc vào khoảng tháng 2,3 khi thời tiết mát, có mưa phùn là điều kiện thích hợp để bệnh phát sinh, phát triển trên cà chua đông xuân ở giai đoạn cuối vụ hoặc cây cà chua xuân hè ở thời kỳ đầu vụ

3. Biện pháp phòng trừ:

- Bắc giàn cho cà chua. Cắt tỉa bỏ lá già, cành nhỏ ở gốc, tạo cho luống cà chua thông thoáng.

- Khi bệnh xuất hiện có thể dùng một trong những loại thuốc sau: Rovral 50WP (0,6 -1,2kg/ha), Belate 50WP (1,5kg/ha), Topsin M 70WP (0,7kg/ha), Carbenzim 50WP (500g/ha) để phun trừ bệnh.

- Thu quả bị bệnh đưa ra khỏi ruộng đem chôn

Sưu tầm: http://nnptntvinhphuc.gov.vn

Bệnh thối đỉnh quả cà chua (Geotricum candidum)

1. Đặc điểm nhận biết

- Bệnh thường xuất hiện trên các quả xanh đang phát triển. Trên đỉnh quả xuất hiện đốm màu nâu, đốm lan rộng dần trở thành những vùng thô, lõm và chuyển thành màu đen. Các vùng bị hại co lại gây biến dạng quả, quả xanh, quả chín đều có thể bị hại.

2. Điều kiện phát sinh gây hại

- Do thiếu calxi khi quả đang được hình thành và do bón nhiều đạm, cây sinh trưởng nhanh, rối loạn độ ẩm do mưa to, hạn hán và ít tỉa lá khi trồng trọt.

3. Biện pháp phòng trừ

- Chọn đất trồng phải đảm bảo nước tưới và thoát nước tốt.

- Ổn định độ ẩm đất.

- Bón vôi cho đất trước khi trồng ít nhất một tháng.

- Bón đầy đủ phân hữu cơ, tránh bón thừa đạm.

- Khi thấy có triệu chứng thối đỉnh quả cà chua có thể sử dụng Clorua calxi, Nitrat calxi.

Sưu tâm: http://nnptntvinhphuc.gov.vn

Bệnh khảm hoa lá (VIUS)

1. Đặc điểm nhận biết

- Bệnh gây hại trên các cây rau dưa, bầu bí, mướp, khổ qua.

- Cây bị bệnh đọt non xoăn lại, lá nhạt màu và lốm đốm vàng, loang lổ, các đốt thân co ngắn, cây chùn lại, phát triển chậm, quả ít và biến dạng, sần sùi, có vị đắng. Bệnh thường xuất hiện trên lá và toàn cây.

2. Đối tượng gây hại

- Bệnh do virus Cucumis virus 1 gây nên.

- Bọ trĩ, rệp làm môi giới. Sự lây nhiễm tương ứng với mật độ bọ trĩ, rệp trên đồng ruộng. Bọ trĩ, rệp càng nhiều tỉ lệ nhiễm bệnh càng lớn.

- Mức độ nhiễm bệnh của các giống cây có khác nhau.

3. Biện pháp phòng trừ

- Vệ sinh đồng ruộng, luân canh cây trồng, thu dọn tàn dư cây bệnh trên đồng ruộng.

- Nhổ bỏ những cây bị bệnh trên ruộng, tránh tiếp xúc giữa cây bệnh và cây khỏe.

- Bệnh do virus gây nên, chưa có thuốc trị, chủ yếu dùng thuốc hóa học để phòng trừ bọ trĩ, rệp hạn chế lây lan.

Sưu tầm:http://nnptntvinhphuc.gov.vn

Bệnh gỉ trắng trên rau muống (Albugo Ipomoea)

1. Đặc điểm nhận biết

- Bệnh phát sinh trên lá đôi khi có ở phần thân gần ngọn. Trên lá lúc đầu là những đốm nhỏ màu vàng nhạt ở mặt dưới lá, về sau lớn lên phát sinh lớp bột trắng (ổ bào tử nấm) xung quanh viền vàng, chỗ vết bệnh nổi phồng lên làm lá co lại, mặt trên lá chỗ vết bệnh biến màu vàng. Nhiều vết bệnh liên kết lại làm lá vàng héo và rụng, ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng rau

2. Đối tượng gây hại

- Nấm tồn tại trong tàn dư cây trồng dưới dạng sợi nấm và bào tử, gặp điều kiện thích hợp bào tử nảy mầm và xâm nhập vào cây để gây bệnh.

- Bào tử nấm lan truyền nhờ mưa, gió.

- Phát triển trong nhiệt độ 10 – 200C, ẩm độ cao, và có mưa. Mùa mưa bệnh hại nặng hơn.

3. Biện pháp phòng trừ

- Thu sạch tàn dư. Làm đất kỹ sau vụ thu hoạch.

- Gieo trồng, cắt gốc để rau muống ở mật độ vừa phải không dày quá.

- Phát hiện nhặt bỏ sớm các lá bị bệnh.

- Luân canh với cây trồng khác. Phát hiện sớm và phun các thuốc phòng trị như thuốc gốc đồng Coc 85, Mancozeb, Ridomil, Mexyl, Aliette, Score, Rovral …

Sưu tầm: http://nnptntvinhphuc.gov.vn

Sâu xám(Agrotis ipsilon)

1. Đặc điểm nhận biết

- Bướm có màu xanh đen, cánh trước màu nâu nhạt hoặc nâu đen, cánh sau trắng có một đường màu đen ở cuối.

- Trứng được đẻ thành ổ ở trong đất hoặc dưới lá, trên thân, trên cỏ và trên tàn dư trong ruộng gần gốc cây chủ. Bướm có thể đẻ 1.200 trứng.

- Sâu non màu xám đen hoặc màu nâu xám dọc theo hai bên thân có một dãy đen mờ. Sâu có 3 đôi chân thật và 5 đôi chân giả.

- Nhộng màu xám xanh đến nâu đỏ có 2 gai ở phía sau.

2. Đặc điểm gây hại

- Sâu xám thường gây hại giai đoạn cây con trên tất cả các loại rau. Loài sâu này thường cắn đứt các thân và cành non kéo xuống đất để ăn.

Sâu non có 6 tuổi, khi bị đụng chúng cuộn lại giả chết. Ban ngày sâu non ẩn núp ở dưới bề mặt của đất, dưới lá. Ban đêm sâu non lên mặt đất và ăn ngang thân cây sát mặt đất, làm thân cây bị khuyết hoặc bị cắn đứt.

- Sâu non có thể gây hại nặng cho cây giống và cây con trên ruộng. Sâu thường xuất hiện vào giai đoạn cây con và gây hại trầm trọng nhất ở những vùng đất nhẹ, đất cát nơi sâu non có thể vùi mình dễ dàng.

3. Biện pháp phòng trừ

* Biện pháp canh tác:

- Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại, cày ải phơi đất 2 tuần trước khi trồng.

- Dẫn nước ngập ruộng trước khi chuẩn bị đất để trồng.

* Biện pháp cơ giới vật lý:

Đối với những ruộng có diện tích nhỏ có thể bắt sâu bằng tay.

* Biện pháp sinh học:

- Hạn chế phun thuốc để bảo tồn thiên địch thường xuất hiện trên đồng ruộng như nhện , bọ rùa, ong ký sinh...

- Dùng bẫy chua ngọt để bẫy bướm (4 phần đường đen + 4 phần dấm +1 phần rượu + 1 phần nước + 1% thuốc).

* Biện pháp hóa học: Có thể dùng các loại thuốc để xử lý đất trước khi gieo trồng như Basudin, Diaphos, Regent…